Đánh đu là tục vui của hội xuân, trong đó người chơi đứng trên bàn đu treo vào một khung tre cao, dùng sức nhún của chân để đẩy đu lên cao dần. Ở nhiều làng Bắc Bộ xưa, cây đu được dựng từ cuối năm cũ ở sân đình hay bãi đất đầu làng và đứng đó suốt tháng Giêng; ai cũng có thể lên đu, nhưng người được xem nhiều nhất là những đôi trai gái đu đôi.
Ngày nay đánh đu còn ở một số hội làng, khu du lịch văn hoá và trường học vào dịp Tết. Bài này đi qua cấu tạo cây đu tre, các lối đu, vì sao đu gắn với mùa xuân, những điều cần kiểm trước khi dựng đu và lên đu, để bạn vừa hiểu vừa giữ được tục mà không ai bị thương.
Vì sao đánh đu là tục của mùa xuân
Cây đu dựng ngoài trời, cần đất khô, trời ít mưa to, người rảnh rỗi. Tháng Giêng ở Bắc Bộ hội đủ những điều đó: ruộng đã cấy hoặc đang nghỉ, mưa phùn nhẹ, làng mở hội liên miên. Vì vậy cây đu trở thành một hình ảnh quen của Tết quê, cùng với nồi bánh chưng và cây nêu. Nhiều người lớn tuổi kể rằng thấy cây đu dựng lên là biết Tết đến, thấy cây đu hạ xuống là biết hết tháng ăn chơi, sắp vào việc đồng.
Đu còn gắn với mùa xuân vì đó là mùa của đôi lứa. Trong hội, đu đôi nam nữ là dịp hiếm hoi để trai gái đứng gần nhau trước mặt cả làng mà không ai trách. Hai người phải nhịp nhàng nhún, phải tin nhau mới đu được cao. Người xem đứng dưới cổ vũ, trêu ghẹo, và từ đó có những câu chuyện làm quen. Văn học cũng ghi lại điều này: bài thơ Nôm “Đánh đu” được lưu truyền dưới tên Hồ Xuân Hương là một ví dụ quen thuộc trong sách văn học trung đại.
Ngoài ý nghĩa vui chơi, đánh đu còn là một thử thách sức và gan. Đu càng cao, bàn đu càng gần ngang xà, người đu phải giữ thăng bằng và kiểm soát nỗi sợ. Ở nhiều hội, người đu giỏi được làng khen, được nhớ tên qua nhiều năm như một người khéo của làng.
Cấu tạo cây đu tre truyền thống
Cột đu. Thường là bốn cây tre già, thẳng, to đều, chia làm hai cặp chụm đầu vào nhau như hình chữ A ở hai bên. Chân tre chôn sâu xuống đất hoặc chèn chắc trong hố, có khi néo thêm dây ra cọc để cột không lắc.
Xà ngang. Một đoạn tre hoặc gỗ chắc gác ngang qua hai đỉnh chữ A. Đây là điểm treo, chịu toàn bộ lực khi đu lên cao nên phải buộc chặt và kiểm kỹ.
Dây đu hay cần đu. Có nơi dùng hai sợi thừng to, có nơi dùng hai cây tre nhỏ làm cần cứng. Dây mềm thì đu êm nhưng khó lên cao; cần cứng thì đu khoẻ hơn nhưng cần tay nghề dựng đu tốt.
Bàn đạp. Một tấm ván gỗ dày buộc ngang ở đầu dưới hai dây, đủ chỗ cho một hoặc hai người đứng. Ván phải không mục, không nứt, mặt không trơn.
Dây giật hay dây đẩy. Một số cây đu có thêm dây buộc vào bàn đạp để người dưới đất kéo giúp lúc mới bắt đầu, sau đó người đu tự nhún.
Giải thưởng treo cao. Ở cây đu dành cho thi, người ta treo một vật nhỏ như dải lụa hay bó hoa ở độ cao nhất định; người đu chạm hay giật được là thắng. Vật treo mang tính danh dự hơn giá trị.
Các lối đánh đu thường gặp trong hội
Mỗi làng gọi tên có thể khác, nhưng các lối đu chủ yếu xoay quanh số người trên bàn và mục đích của lượt đu.
| Lối đu | Cách đu | Ai thường đu | Điểm cần lưu ý |
|---|---|---|---|
| Đu đơn | Một người đứng giữa bàn đạp, tự nhún gối để lấy đà | Thanh niên, người mới tập | Bắt đầu thấp, tăng dần, có người đứng đỡ lúc đầu |
| Đu đôi | Hai người đứng đối mặt, nắm dây, thay nhau nhún nhịp nhàng | Đôi nam nữ, đôi bạn | Phải thống nhất nhịp; một người lỡ nhịp là đu chao |
| Đu ngồi | Người đu ngồi trên bàn, người dưới đẩy | Trẻ nhỏ, người lớn tuổi | Chỉ đu thấp, có người lớn giữ dây giật |
| Thi đu cao | Đu lên đến khi chạm hay giật được vật treo trên cao | Người đã quen đu | Ban tổ chức nên giới hạn độ cao và kiểm cây đu trước mỗi lượt |
| Đu biểu diễn | Đu đôi kết hợp động tác đẹp, trang phục hội | Đội đu của làng | Chỉ người đã tập kỹ mới thực hiện |
Trong các lối trên, đu đôi là lối được nhắc đến nhiều nhất trong ca dao và tranh dân gian. Nó đẹp vì cần hai người hiểu nhau, nhưng cũng vì vậy mà nguy cơ cao hơn đu đơn nếu một người chưa quen.
Kỹ thuật nhún để đu lên cao cho người mới
Đánh đu không cần sức tay nhiều như người ta tưởng. Phần lớn lực đến từ chân và cách dồn trọng tâm. Các bước dưới là cách nhiều người đu lâu năm hay chỉ cho người mới:
- Đứng giữa bàn đạp, hai chân rộng bằng vai, hai tay nắm dây ngang tầm vai, không nắm quá cao.
- Nhờ người dưới đất kéo dây giật nhẹ vài lần để đu có đà ban đầu.
- Khi đu đi về phía trước và bắt đầu lên, khuỵu gối hạ thấp người; khi đu ở điểm cao nhất và sắp quay lại, đứng thẳng người lên. Nhịp hạ rồi đứng này là thứ đẩy đu cao dần.
- Ở chiều ngược lại làm y như vậy. Giữ mắt nhìn thẳng, không nhìn xuống đất khi đang lên.
- Muốn dừng thì thôi nhún, đứng yên để đu tự chậm lại, nhờ người dưới giữ dây giật. Không nhảy xuống khi đu còn đang chuyển động.
- Đu đôi thì hai người thay nhau: người này khuỵu thì người kia đứng thẳng. Nên tập ở độ cao thấp vài lượt để quen nhịp trước khi lên cao.
Nếu thấy chóng mặt hay run tay, hãy ngừng nhún ngay. Không ai đánh giá người đu thấp; người làng chỉ lo khi thấy ai đó cố đu cao lúc chưa quen.
Kiểm tra cây đu trước khi cho người lên
Cây đu tre dựng tạm có thể yếu đi sau nhiều ngày nắng mưa và nhiều lượt đu. Người phụ trách hội làng hay trường học nên kiểm những điểm sau mỗi ngày, và trước mỗi lượt thi:
- Chân cột: không lún, không lỏng; đất quanh chân không bị nước làm nhão.
- Chỗ buộc xà ngang: dây buộc còn chặt, không có dấu sờn; tre không nứt dọc ở điểm treo.
- Dây đu hay cần đu: không xơ, không mục; hai bên dài bằng nhau để bàn không nghiêng.
- Bàn đạp: ván chắc, không trơn; nếu trời mưa phùn thì lau khô hoặc tạm dừng.
- Vùng đất dưới đu: dọn đá, gạch vỡ; có thể rải rơm hay trải đệm mỏng ở hai đầu đường đu.
- Vùng an toàn: căng dây chắn để người xem không đứng trong đường đu, nhất là trẻ con hay chạy ngang.
- Người lên đu: không say rượu, không mang đồ trong túi áo dễ rơi, không đi dép lê; trẻ nhỏ chỉ đu ngồi, đu thấp, có người lớn kèm.
Những điều hay hiểu nhầm về đánh đu
“Đu cao là nhờ tay khoẻ.” Thực ra lực chính đến từ nhịp khuỵu gối và đứng thẳng đúng lúc. Người tay khoẻ mà nhún sai nhịp vẫn chỉ đu tại chỗ; người nhỏ con nhún đúng nhịp lại lên cao rất nhanh. Vì vậy người dạy đu thường bảo người mới thả lỏng tay, chú ý vào chân.
“Cây đu tre dựng một lần là dùng được cả mùa.” Tre phơi nắng mưa nhiều ngày sẽ khô dần ở chỗ buộc, dây thừng ngấm nước rồi khô cũng giãn ra. Cây đu cần được kiểm mỗi ngày, nhất là sau hôm mưa, chứ không phải dựng xong là yên tâm đến hết tháng Giêng.
“Đu đôi chỉ dành cho trai gái.” Đu đôi nam nữ là hình ảnh được nhắc nhiều trong văn chương, nhưng trong hội, bạn bè cùng giới, anh em trong nhà vẫn đu đôi với nhau bình thường. Điều quan trọng là hai người hợp nhịp và tin nhau.
“Đánh đu là tục riêng của người Kinh.” Nhiều dân tộc ở miền núi phía Bắc cũng có tục đu trong dịp năm mới với kiểu đu và cách dựng riêng. Khi tìm hiểu, bạn nên hỏi chính người trong cộng đồng đó thay vì áp cách gọi và cách hiểu của làng đồng bằng.
“Thi đu thì càng cao càng tốt.” Hội làng xưa có giải treo cao để khích lệ, nhưng người tổ chức có trách nhiệm luôn đặt giới hạn. Một cuộc thi đu đẹp là cuộc thi mà ai cũng xuống đất an toàn, không phải cuộc thi có người đu ngang xà.
Giữ cây đu trong hội xuân hôm nay
Ở nhiều làng, cây đu đã vắng một thời gian dài vì không còn người biết dựng và vì sân đình bị thu hẹp. Những năm gần đây, một số hội làng, khu bảo tàng ngoài trời và trường học dựng lại cây đu dịp Tết, coi đó là cách đưa người trẻ trở lại với không khí hội quê. Điều đáng quý là có những cụ già trong làng chịu đứng ra chỉ cách chọn tre, cách buộc, cách chôn chân cột, vì kỹ năng này không nằm trong sách nào.
Nếu khu phố hay trường học của bạn muốn dựng một cây đu cho hội xuân, hãy nghĩ trước về người phụ trách: ai kiểm cây đu, ai đứng giữ dây giật, ai quyết định dừng khi trời mưa hay khi đông quá. Một cây đu không có người trông là một cây đu không nên dựng. Với không gian hẹp, có thể chọn đu ngồi thấp cho trẻ và người lớn tuổi, vẫn giữ được hình ảnh của tục mà rủi ro nhỏ hơn nhiều.
Còn với người đi hội, lần tới gặp cây đu tre ở sân đình, bạn có thể đứng xem lâu hơn một chút: nhìn cách đôi người đu bắt nhịp, nhìn cây tre cong xuống rồi bật lên, nghe tiếng người làng cổ vũ. Đó là một phần của mùa xuân mà ảnh chụp khó giữ trọn.
Câu hỏi thường gặp
Đánh đu thường có vào dịp nào?
Đánh đu thường có trong những ngày Tết và hội xuân tháng Giêng, nhất là ở các làng đồng bằng Bắc Bộ. Cây đu có thể được dựng từ trước Tết và giữ đến hết các hội đầu năm, tuỳ lệ từng làng. Ngày nay nhiều nơi chỉ dựng trong mấy ngày hội.
Đánh đu đôi có khó không?
Đu đôi khó hơn đu đơn vì hai người phải thay nhau nhún đúng nhịp: người này khuỵu gối thì người kia đứng thẳng. Người mới nên tập đu đơn trước, rồi đu đôi ở độ cao thấp với người đã quen, sau đó mới lên cao dần.
Trẻ em có nên đánh đu ở hội không?
Trẻ nhỏ nên đu ngồi ở độ cao thấp, có người lớn giữ dây giật và đứng gần. Không cho trẻ đu đứng trên cây đu cao dành cho người lớn, và luôn giữ trẻ đứng xem ngoài vùng an toàn vì đường đu quét rất rộng.
Cây đu tre cần bao nhiêu cây tre để dựng?
Kiểu thường gặp dùng bốn cây tre làm cột chia hai cặp chụm đầu, thêm một xà ngang và hai dây hoặc hai cần đu, cùng một tấm ván làm bàn đạp. Số lượng và kích thước thay đổi theo độ cao mong muốn và tay nghề người dựng.
Thi đánh đu tính thắng thua thế nào?
Ở nhiều hội, ban tổ chức treo một vật nhỏ trên cao; người đu chạm hay lấy được vật đó là thắng. Có nơi chấm theo độ cao và độ đẹp của lượt đu đôi. Luật cụ thể do từng làng định và nên đặt giới hạn độ cao để giữ an toàn.
Bài thơ Đánh đu của Hồ Xuân Hương nói về gì?
Bài thơ Nôm “Đánh đu” được lưu truyền dưới tên Hồ Xuân Hương tả cảnh trai gái đánh đu ngày hội, với lối chơi chữ và hình ảnh táo bạo quen thuộc của thơ bà. Bài thường được nhắc khi bàn về thơ Nôm trung đại; bạn nên đọc trong tuyển tập có chú thích để hiểu đúng nghĩa từng câu.