Kéo co nghi lễ là tục kéo co gắn với lễ hội làng, thường làm vào đầu năm, để cầu mùa màng và gắn kết cộng đồng; nó không nhằm tìm đội khoẻ nhất như kéo co thi đấu. Tháng 12 năm 2015, UNESCO ghi danh nghi lễ và tục kéo co vào Danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại, theo hồ sơ chung của bốn nước Việt Nam, Campuchia, Hàn Quốc và Philippines.
Ở Việt Nam, những nơi được nhắc đến nhiều nhất trong hồ sơ là các làng ở Hà Nội, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc cũ (nay thuộc Phú Thọ) và một số cộng đồng ở Lào Cai. Mỗi nơi kéo một kiểu: có làng kéo bằng dây, có làng kéo bằng sợi song, có làng ngồi bệt mà kéo cả một cây tre. Bài này giải thích kéo co nghi lễ khác kéo co thường ở đâu, diễn trình chung của một buổi kéo, vì sao tục này gắn với mùa xuân và nên xem thế nào cho an toàn.
Kéo co nghi lễ khác kéo co ở sân trường ra sao
Kéo co ở sân trường hay trong ngày hội thể thao có luật rõ: hai đội bằng người, vạch giữa, ba keo, đội nào kéo qua vạch là thắng. Mục đích là vui và rèn sức. Kéo co nghi lễ thì khác từ gốc. Nó là một phần của lễ hội làng, diễn ra ở sân đình, sân đền hoặc bãi đất trước miếu, thường sau phần lễ tế thần. Dây kéo được làm, được giữ và đôi khi được rước như một đồ thờ. Người tham gia không phải ai cũng được vào, mà theo lệ làng: trai đinh của từng xóm, từng giáp, có nơi cả phụ nữ.
Điểm khác thứ hai nằm ở ý nghĩa của thắng thua. Trong kéo co thể thao, thắng là mục tiêu. Trong kéo co nghi lễ, kết quả nhiều khi mang tính tượng trưng. Theo quan niệm của không ít làng, phe này hay phe kia thắng được đọc như một điềm cho năm mới, chẳng hạn mưa thuận hay mùa tốt. Có nơi còn có lệ để một phe nhất định thắng, hoặc kéo đến khi hai bên hoà. Người làng hiểu đó là lời cầu chung của cộng đồng, không phải phép bói cho từng nhà.
Điểm khác thứ ba là nhịp điệu. Kéo co nghi lễ có trống, chiêng, có người hô, có cờ lệnh, có lúc nghỉ để rước dây hay làm lễ. Một buổi kéo có thể kéo dài cả buổi chiều, xen giữa là những phần hội khác. Người xem đến không chỉ để biết ai thắng mà để dự một sinh hoạt chung của làng, nơi người đi làm ăn xa trở về gặp lại nhau.
Hồ sơ UNESCO năm 2015 ghi nhận điều gì
Đây là hồ sơ chung của nhiều nước. Kéo co không phải tục riêng của một dân tộc. Việt Nam, Campuchia, Hàn Quốc và Philippines cùng xây dựng một hồ sơ, được UNESCO ghi danh tại kỳ họp của Uỷ ban liên chính phủ cuối năm 2015. Cách làm này cho thấy một tục có thể sống ở nhiều nước mà mỗi nơi vẫn giữ nét riêng.
Trọng tâm là nghi lễ trong cộng đồng trồng lúa. Hồ sơ nhấn vào chỗ kéo co gắn với nông nghiệp lúa nước: cầu mùa, cầu mưa, đánh dấu đầu chu kỳ canh tác. Nói cách khác, cái được ghi nhận là cả sinh hoạt văn hoá quanh sợi dây, chứ không phải kỹ thuật kéo.
Danh hiệu thuộc về cộng đồng, không thuộc riêng một làng. Khi đọc tin “làng X có kéo co di sản thế giới”, bạn nên hiểu là tục kéo co của làng ấy nằm trong hồ sơ chung. Danh hiệu không biến một làng thành nơi duy nhất giữ tục, và cũng không phải nhãn để quảng bá dịch vụ.
Ghi danh kèm trách nhiệm bảo vệ. Các nước có hồ sơ cam kết hỗ trợ cộng đồng truyền dạy, ghi chép và giữ không gian thực hành. Ở các làng, việc này hiện ra qua những buổi tập cho lớp trẻ, việc ghi lại lệ kéo, và việc giữ sân đình đủ rộng cho ngày hội.
Người làng gọi giản dị hơn tên hồ sơ. Tên hồ sơ quốc tế nói tới cả nghi lễ lẫn phần thi vui. Trong văn cảnh làng xã, người già thường chỉ gọi là “kéo co” hay “hội kéo co”, và nhấn vào phần lễ hơn phần thi.
Một số lối kéo co nghi lễ ở Việt Nam
Bảng dưới gom những lối kéo co được nhắc nhiều trong các tài liệu giới thiệu di sản. Chi tiết lệ kéo, ngày giờ và số người có thể thay đổi theo năm, nên trước khi đi xem bạn nên hỏi thông báo của ban tổ chức hội làng năm đó.
| Nơi giữ tục | Vật dùng để kéo | Điểm đáng chú ý |
|---|---|---|
| Đền Trấn Vũ, phường Thạch Bàn cũ (Long Biên, Hà Nội) | Một cây tre dài | Kéo co ngồi: người kéo ngồi bệt dưới đất, chân tì nối nhau, dùng sức lưng và tay |
| Làng Hữu Chấp (Bắc Ninh) | Dây kéo bện to | Kéo trong hội làng đầu năm, chia phe theo lệ làng, có phần lễ trước khi kéo |
| Thị trấn Hương Canh cũ (Vĩnh Phúc cũ, nay thuộc Phú Thọ) | Sợi song, một loại mây thân lớn | Gọi là kéo song; sợi song được chọn và chuẩn bị riêng cho ngày hội |
| Một số cộng đồng người Tày, người Giáy ở Lào Cai | Dây hoặc thân cây theo tập quán địa phương | Gắn với lễ xuống đồng và mùa vụ của làng bản |
| Nhiều làng khác ở đồng bằng Bắc Bộ | Dây thừng, dây mây, tre | Có nơi đã bỏ lâu rồi mới khôi phục, lệ kéo được ghi lại theo lời kể của người cao tuổi |
Điều thú vị là chính vật dùng để kéo đã nói lên nhiều điều về làng. Nơi nhiều tre thì kéo tre, nơi có song mây thì kéo song. Người xem chịu khó hỏi các cụ vì sao làng mình kéo bằng thứ này, thường sẽ nghe được một câu chuyện về đất và nghề của làng.
Vì sao kéo co gắn với mùa xuân và lời cầu mùa
Tháng Giêng là lúc ruộng đồng đang nghỉ hoặc vừa bắt đầu vụ mới. Theo nông lịch cũ, đây là khoảng thời gian làng có thể dồn sức cho hội hè, và cũng là lúc người ta mong một năm mưa nắng thuận hoà. Kéo co, với hình ảnh hai phe ghì nhau rồi một bên được kéo về, dễ được hiểu như một phép tượng trưng cho sự vận hành của trời đất: hai lực đối nhau, rồi cân bằng, rồi chuyển động.
Nhiều nhà nghiên cứu văn hoá dân gian đọc kéo co theo cặp đối âm và dương, hay đối giữa vùng cao và vùng trũng, giữa phe ngoài đồng và phe trong xóm. Cách đọc nào cũng xuất phát từ quan sát thực tế: phe kéo thường được chia theo địa bàn hay theo giới, và kết quả được làng gán cho một ý nghĩa liên quan tới mùa màng. Bạn nên coi các cách giải thích này là cách hiểu của người làng và người nghiên cứu, không phải một quy luật chung cho mọi nơi.
Bên cạnh lời cầu mùa còn có một lý do rất đời thường. Kéo co cần đông người và cần phối hợp. Một làng chịu khó tập kéo cho ngày hội là một làng biết cùng nhau làm việc nặng, như đắp đê, tát nước, dựng nhà. Vì vậy người già vẫn nói kéo co là để “giữ sức trai làng” và “giữ cái đoàn kết”, hai thứ mà làng nông nghiệp nào cũng cần.
Diễn trình thường gặp của một buổi kéo co nghi lễ
Mỗi làng có lệ riêng, nhưng phần lớn buổi kéo co nghi lễ đi theo một khung gần giống nhau. Biết khung này, bạn đến xem sẽ hiểu đang diễn ra phần nào và không chen nhầm lúc làng đang làm lễ.
- Chuẩn bị vật kéo từ trước hội. Dây được bện, tre được chọn, song được ngâm và nắn. Ở nhiều làng, việc này giao cho những người có kinh nghiệm và làm trong không khí trang trọng.
- Làm lễ ở đình, đền. Các cụ trong ban khánh tiết làm lễ báo cáo việc mở hội. Vật kéo có thể được đặt trước sân hoặc rước ra từ trong đình.
- Chọn và xếp người kéo. Người kéo thường mặc trang phục giống nhau theo phe, có khăn hoặc dải vải phân biệt. Số người mỗi phe được làng thống nhất.
- Hiệu lệnh bắt đầu. Một người cầm cờ hay chủ trì hô lệnh, trống chiêng nổi lên. Ở kéo co ngồi, người kéo ngồi xuống trước, chân tì vào nhau rồi mới kéo.
- Các keo kéo. Thường có nhiều keo, giữa các keo có nghỉ. Một số nơi kéo đến khi có kết quả theo lệ, một số nơi dừng khi người chủ trì báo đủ.
- Kết thúc và chia lộc. Sau keo cuối, làng có thể làm lễ tạ, người kéo và người xem cùng ăn uống, nói chuyện. Đây là lúc dễ hỏi chuyện các cụ về lệ làng nhất.
Nếu bạn đi cùng trẻ nhỏ, hãy giải thích trước rằng đây là một phần lễ của làng. Trẻ hiểu thì sẽ đứng xem yên hơn và không chạy vào khu vực dây kéo.
Xem kéo co ở hội làng cho an toàn và đúng phép
Kéo co trông đơn giản nhưng lực trên sợi dây rất lớn. Khi một phe bật ngã, dây có thể giật mạnh sang ngang. Vài điều sau giúp bạn xem trọn mà không gây phiền cho làng:
- Đứng ngoài vạch hay dây chắn ban tổ chức căng, cách hai bên dây kéo một khoảng đủ rộng; không đứng sát đầu dây phía sau người kéo cuối.
- Không bước qua dây, không ngồi lên tre hay song đang đặt giữa sân, vì ở nhiều làng đó là vật đã làm lễ.
- Giữ trẻ nhỏ trong tầm tay, nhất là lúc kết thúc keo, khi đám đông hay ùa vào sân.
- Muốn chụp ảnh thì chọn chỗ cao, chỗ được phép; không chen vào lối đi của đoàn rước, không dùng đèn chớp chiếu thẳng vào người kéo.
- Nếu làng mời người xem cùng kéo một keo vui sau phần nghi lễ, hãy làm theo hướng dẫn của người chủ trì, tháo nhẫn, đồng hồ, mang giày đế bám.
- Không cá cược trên kết quả. Ở đây kết quả là điềm của cả làng, đem ra ăn thua là làm hỏng ý nghĩa của tục.
- Mang rác ra khỏi sân đình khi về; ngày hội qua đi nhưng sân đình là nơi làng dùng quanh năm.
Giữ tục kéo co hôm nay: từ sân đình đến sân trường
Sau khi được ghi danh, nhiều làng có thêm động lực tổ chức kéo co đều đặn hơn, mời lớp trẻ tham gia tập từ trước Tết. Không ít nơi mở các buổi kể chuyện về lệ kéo cho học sinh, để các em biết vì sao làng mình kéo bằng tre, bằng song chứ không bằng dây mua sẵn. Đây là cách giữ tục bền nhất: người trong làng hiểu và muốn làm, chứ không chỉ làm cho khách xem.
Ở trường học và khu dân cư, kéo co thể thao vẫn là hoạt động quen thuộc trong hội xuân. Bạn có thể nhân dịp đó kể cho học sinh nghe về kéo co nghi lễ: vì sao có làng ngồi mà kéo, vì sao thắng thua lại là điềm của cả năm. Phần luật thi đấu, cách chia đội, chọn dây cho người lớn đã có nhiều tài liệu hướng dẫn riêng; điều đáng thêm vào là câu chuyện văn hoá phía sau sợi dây.
Một lưu ý cuối: đừng vội gán cho mọi buổi kéo co đầu xuân chữ “di sản thế giới”. Danh hiệu gắn với hồ sơ cụ thể và cộng đồng cụ thể. Gọi đúng tên, hỏi đúng người, ghi đúng chuyện là cách tôn trọng những làng đã giữ tục qua nhiều thế hệ.
Câu hỏi thường gặp
Kéo co được UNESCO ghi danh năm nào?
Tháng 12 năm 2015, UNESCO ghi danh nghi lễ và tục kéo co vào Danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại. Đây là hồ sơ chung của Việt Nam, Campuchia, Hàn Quốc và Philippines, nhấn vào kéo co gắn với nghi lễ cộng đồng trồng lúa.
Kéo co ngồi là gì?
Kéo co ngồi là lối kéo mà người kéo ngồi bệt dưới đất, chân tì nối nhau thành hàng, cùng ghì một cây tre dài thay cho dây. Lối kéo này được biết nhiều qua tục ở đền Trấn Vũ, Thạch Bàn, Long Biên, Hà Nội. Sức kéo dồn vào lưng, tay và sự đồng lòng của cả hàng.
Kéo song khác kéo co bằng dây thế nào?
Kéo song dùng sợi song, một loại mây thân lớn và dai, thay cho dây thừng. Tục này gắn với Hương Canh, nay thuộc Phú Thọ sau khi sắp xếp tỉnh. Sợi song được chọn và chuẩn bị riêng, việc chuẩn bị cũng là một phần của lễ.
Kết quả kéo co nghi lễ có ý nghĩa gì?
Ở nhiều làng, kết quả được hiểu như một điềm chung cho năm mới, thường liên quan tới mưa nắng và mùa màng. Đó là quan niệm của cộng đồng, mang tính tượng trưng. Có làng còn có lệ để một phe thắng hoặc kéo đến khi hoà, nên không thể đọc như một cuộc thi sức.
Người ngoài làng có được tham gia kéo không?
Phần kéo nghi lễ thường dành cho người làng theo lệ đã định. Một số nơi mở thêm keo giao lưu cho khách sau phần chính. Bạn nên hỏi ban tổ chức tại chỗ và làm theo người chủ trì, không tự ý cầm dây khi chưa được mời.
Muốn biết ngày tổ chức kéo co ở một làng thì làm sao?
Ngày kéo thường theo lịch hội làng âm lịch và có thể thay đổi theo năm. Cách chắc nhất là theo dõi thông báo của ban tổ chức hoặc chính quyền địa phương gần dịp Tết, hoặc hỏi trực tiếp người trong làng. Không nên dựa vào một ngày ghi sẵn trên mạng từ nhiều năm trước.