Lễ cầu ngư là lễ đầu năm của các làng biển miền Trung, diễn ra rải rác từ tháng Giêng đến khoảng tháng Ba âm lịch tuỳ làng: phần lễ tế ở lăng, đình làng chài, phần hội có hát bả trạo, đua thuyền, kéo co, đôi nơi có hát bội. Ngư dân cầu cho một năm biển êm, thuyền đi về đủ người; với cả làng, đây còn là dịp gặp mặt trước khi bước vào mùa đánh bắt chính.
Tục thờ cá Ông và lễ nghinh Ông đã được nhiều nơi viết kỹ, nên bài này nhìn lễ cầu ngư ở góc lịch hội xuân: vì sao lễ rơi vào đầu năm, một lễ cầu ngư thường diễn ra những gì, hát bả trạo là gì, và nếu muốn đến xem thì nên đi thế nào để không làm phiền làng. Ngày lễ cụ thể của từng làng do làng định, bạn luôn cần hỏi người địa phương năm đó.
Vì sao làng biển làm lễ vào đầu năm
Nhịp sống làng biển miền Trung đi theo mùa gió. Những tháng cuối năm âm lịch thường là mùa gió bấc, biển động, nhiều thuyền nằm bờ. Sang đầu năm, biển dịu dần, thuyền bắt đầu chuẩn bị cho mùa đánh bắt mới. Lễ cầu ngư rơi vào quãng này là để đánh dấu lúc cả làng trở lại với biển.
Trong tâm thức ngư dân, biển vừa nuôi sống vừa đầy rủi ro. Lễ cầu ngư là cách cộng đồng cùng nhau bày tỏ lòng biết ơn với các vị thần biển, tưởng nhớ những người đã mất trên biển, và cầu cho một năm thuận lợi. Đây là lời cầu chứ không phải lời hứa; ngư dân hiểu hơn ai hết rằng an toàn trên biển còn nằm ở con thuyền chắc, ngư cụ tốt và dự báo thời tiết.
Vì mỗi làng có lịch riêng, lễ cầu ngư không gom về một ngày. Có làng làm ngay sau Tết, có làng chọn rằm tháng Giêng, có làng làm vào tháng Hai, tháng Ba. Một số làng còn có lễ vào giữa năm. Với người đi hội, điều này có nghĩa là suốt mùa xuân, nếu đi dọc bờ biển miền Trung, bạn có khá nhiều cơ hội gặp một lễ cầu ngư.
Diễn trình một lễ cầu ngư thường gặp
Mỗi làng một nếp, nhưng phần lớn lễ cầu ngư có các bước chính dưới đây. Thứ tự và tên gọi có thể khác nhau giữa các vùng.
- Chuẩn bị. Làng họp, cử ban tế, chọn ngày, quyên góp. Lăng, đình được dọn dẹp, thuyền trang hoàng cờ, hoa.
- Lễ rước. Ở nhiều làng, đoàn thuyền ra biển hoặc đi dọc bờ để rước thần về lăng; một số nơi rước sắc thần, bài vị từ đình ra lăng.
- Lễ tế chính. Ban tế mặc áo thụng, làm lễ theo nghi thức tế cổ truyền với trống, chiêng, nhạc lễ, đọc chúc văn. Phần này trang nghiêm, kéo dài nhiều giờ, thường diễn ra ban đêm hoặc rạng sáng.
- Tưởng niệm người mất trên biển. Nhiều làng có lễ cúng cô hồn, tưởng niệm ngư dân đã mất, có nơi thả thuyền giấy hoặc đèn xuống biển.
- Hát bả trạo. Đội bả trạo diễn cảnh chèo thuyền, vừa chèo vừa hát, kể chuyện nghề biển.
- Phần hội. Đua thuyền, kéo co, bơi lội, hát bài chòi, có nơi diễn hát bội nhiều đêm.
- Ra khơi đầu năm. Sau lễ, một số làng có tục ra khơi chuyến đầu, coi như mở mùa.
Phần lễ tế thường là nội bộ của làng, người ngoài có thể đứng xa quan sát. Phần hội thì cởi mở hơn, khách có thể xem cùng người dân.
Không gian lễ: lăng, đình làng chài và bãi biển
Một lễ cầu ngư thường diễn ra trên ba không gian. Lăng là nơi thờ thần biển của làng, ở nhiều nơi là lăng thờ cá Ông, nằm gần bãi biển. Đình làng chài là nơi thờ Thành hoàng và các vị tiền hiền đã khai lập làng, nơi ban tế họp và làm các lễ chính. Còn bãi biển và mặt nước trước làng là sân khấu của phần hội và của các lễ rước bằng thuyền.
Lễ vật trong lễ cầu ngư phụ thuộc vào nếp của từng làng, thường có hương, hoa, trầu cau, rượu, xôi, hoa quả, có nơi có lễ mặn do các xóm góp. Lễ vật thường được chia phần, mỗi xóm hoặc mỗi chủ thuyền đảm nhận một phần, thể hiện tinh thần cùng làm của cả làng. Sau lễ, lễ vật được chia cho các gia đình, cho những người tham gia hát, chèo, đua.
Vì không gian lễ trải dài như vậy, người đi xem dễ bị bối rối không biết nên đứng đâu. Một cách đơn giản là hỏi lịch trong ngày: giờ nào làm lễ ở lăng, giờ nào ở đình, giờ nào có đua thuyền. Phần lễ ở lăng và đình thì đứng ngoài quan sát; phần trên bãi biển thì có thể đứng gần hơn, cùng dân làng cổ vũ.
Hát bả trạo: lời hát của nghề biển
Hát bả trạo, còn gọi là hò bả trạo hay chèo đưa linh, là loại hình diễn xướng dân gian của ngư dân miền Trung, thường có mặt trong lễ cầu ngư và lễ tang cá Ông. Đội hát gồm một người cầm lái điều khiển, một người đứng mũi, một người lo hậu, và nhiều người làm bạn chèo. Họ đứng thành hai hàng như trên thuyền, cầm mái chèo tượng trưng, vừa hát vừa làm động tác chèo theo nhịp.
Lời bả trạo kể chuyện ra khơi, gặp sóng gió, nhớ người thân, cảm tạ thần biển, và nhắc nhở nhau về luật biển: giúp nhau khi gặp nạn, không bỏ bạn thuyền. Giai điệu và lời mỗi vùng mỗi khác, nhưng đều mang giọng nói địa phương rõ rệt, từ Quảng Nam, Quảng Ngãi đến Bình Định, Khánh Hoà.
Ngày nay, nhiều làng vẫn giữ đội bả trạo với các thành viên lớn tuổi, đồng thời truyền lại cho người trẻ. Ở một số nơi, bả trạo được dàn dựng để biểu diễn trong các sự kiện văn hoá. Nếu được xem bả trạo trong lễ cầu ngư thật, bạn sẽ thấy nó khác hẳn trên sân khấu: không khí trang nghiêm hơn, người xem là chính dân làng, và lời hát gắn với những người đã đi biển không về.
Đua thuyền và các cuộc thi trong phần hội
Đua thuyền là phần sôi động nhất của nhiều lễ cầu ngư. Thuyền đua có thể là thuyền gỗ dài của làng, thuyền thúng hoặc thuyền chuyên đua, đội đua là trai tráng các xóm. Người xem đứng dọc bờ cát, hò reo cổ vũ. Ở một số nơi, thuyền thúng quay vòng là màn được chờ đợi nhất, cho thấy kỹ năng điều khiển thúng của ngư dân.
Ngoài đua thuyền, phần hội có thể có kéo co trên bãi cát, bơi lội, thi nấu ăn, hát bài chòi. Các cuộc thi này mang tính vui chơi cộng đồng, giải thưởng chủ yếu là danh dự cho xóm. Chi tiết luật lệ của từng tục thi thuộc chuyên mục về trò vui và tục thi trong hội xuân của trang.
Đua thuyền đầu năm cũng có rủi ro thật: thuyền lật, người đua kiệt sức, sóng lớn bất ngờ. Những làng tổ chức tốt thường có thuyền cứu hộ túc trực, người đua mặc áo phao, cuộc đua dời lại nếu biển xấu. Với người xem, đó là lý do nên đứng yên trên bờ, không bơi ra gần đường đua và không tự ý chèo thuyền thúng ra xem cận cảnh.
Phần hội cũng là lúc người dân mời khách ăn uống, giao lưu. Nếu được mời, bạn có thể nhận một chút cho phải phép, nhưng nên nhớ đây là hội của làng, khách không nên làm chủ không gian, gây ồn hay uống quá chén. Không cá cược theo kết quả đua thuyền.
Đi xem lễ cầu ngư: lưu ý cho khách
Lễ cầu ngư là sinh hoạt của cộng đồng ngư dân, không phải sự kiện du lịch được dàn dựng. Một vài điều nên nhớ:
- Hỏi trước người địa phương hoặc chính quyền xã, phường về ngày lễ và phần nào khách được xem. Ngày lễ mỗi làng mỗi khác và có thể đổi theo năm.
- Ở phần lễ tế, đứng phía sau, không đi ngang qua giữa sân tế, không chụp ảnh bằng đèn flash. Nhiều phần lễ diễn ra lúc nửa đêm, rạng sáng, ánh đèn flash rất chói.
- Ăn mặc kín đáo khi vào lăng, đình. Trên bãi biển thì thoải mái hơn, nhưng vẫn nên nhớ đây là ngày lễ của làng.
- Không leo lên thuyền khi chưa được chủ thuyền mời. Thuyền ngày lễ thường được trang hoàng và có bàn thờ nhỏ.
- Xem đua thuyền thì đứng trên bờ cát, cách mép nước, giữ trẻ nhỏ bên cạnh. Sóng đầu năm có thể bất ngờ mạnh.
- Không đòi hỏi làng làm lại một màn để chụp ảnh, không chen vào giữa đội bả trạo.
- Giữ sạch bãi biển, mang rác về. Biển sạch là chính điều ngư dân cầu mong.
Nếu có người quen trong làng, hãy đi cùng họ. Họ sẽ giải thích từng phần lễ và giúp bạn biết lúc nào nên đứng xa, lúc nào có thể tham gia.
Lễ cầu ngư trong bức tranh hội xuân miền Trung
Khi nghĩ về hội xuân, người ta thường nhớ đến chùa, đình, đèn lồng. Nhưng với dải đất miền Trung dài và hẹp, nơi hàng trăm làng sống dựa vào biển, lễ cầu ngư là một nửa của mùa xuân. Nó cho thấy hội xuân không chỉ là của vùng đồng bằng trồng lúa, mà còn là của những người đi biển.
Lễ cầu ngư cũng đang thay đổi. Nghề biển hiện đại với tàu lớn, thiết bị định vị, dự báo thời tiết làm thay đổi nhịp mùa vụ; nhiều làng trẻ đi làm xa, đội bả trạo thiếu người. Ở một số nơi, lễ được chính quyền hỗ trợ tổ chức thành lễ hội lớn hơn, kèm hoạt động du lịch. Mỗi hướng đều có cái được, cái mất, và chính cộng đồng ngư dân là người quyết định họ muốn giữ lễ của mình ra sao.
Với người đi hội, điều đáng làm nhất là đến với sự tôn trọng, nghe người làng kể chuyện, và hiểu rằng mỗi tiếng trống, mỗi câu hát bả trạo đều gắn với những chuyến đi biển thật của những người có thật.
Câu hỏi thường gặp
Lễ cầu ngư thường diễn ra vào tháng nào?
Ở miền Trung, phần lớn lễ cầu ngư rơi vào khoảng tháng Giêng đến tháng Ba âm lịch, mỗi làng một ngày riêng. Một số làng có thêm lễ giữa năm. Muốn đi xem, bạn cần hỏi người địa phương hoặc chính quyền xã, phường về ngày cụ thể của năm đó.
Lễ cầu ngư khác lễ nghinh Ông thế nào?
Hai lễ liên quan chặt chẽ, nhiều nơi gộp làm một. Nghinh Ông nhấn vào việc rước thần cá Ông về lăng, còn cầu ngư là tên gọi chung cho lễ đầu mùa cầu cho biển êm và đánh bắt thuận lợi. Tên gọi và nghi thức khác nhau tuỳ từng vùng.
Hát bả trạo là gì?
Là lối diễn xướng dân gian của ngư dân miền Trung: một nhóm người đứng như trên thuyền, cầm mái chèo tượng trưng, vừa làm động tác chèo vừa hát, có người cầm lái điều khiển. Lời hát kể chuyện nghề biển, tưởng nhớ người đã mất và cảm tạ thần biển.
Khách du lịch có được xem lễ cầu ngư không?
Phần lớn làng chào đón khách xem phần hội như đua thuyền, hát bả trạo. Phần lễ tế thường trang nghiêm, khách nên đứng xa và không chụp bằng đèn flash. Hỏi trước người địa phương phần nào được xem là cách lịch sự nhất.
Đi xem đua thuyền trong lễ cầu ngư cần lưu ý gì?
Đứng trên bờ cát, cách xa mép nước, giữ trẻ nhỏ bên cạnh, mang mũ và nước vì nắng biển gắt. Không lên thuyền khi chưa được mời, không cá cược theo kết quả đua. Giữ sạch bãi biển trước và sau buổi đua.