Ông đồ là cách gọi người dạy chữ Hán ở trường làng thời xưa, thường là nhà nho học rộng mà không đỗ đạt cao hoặc không ra làm quan; mỗi dịp Tết, ông đồ viết câu đối, viết chữ cho người trong làng và ở thành thị thì bày giấy mực bên hè phố. Hình ảnh ông đồ áo the, khăn xếp ngồi viết chữ dưới cành đào đã thành một biểu tượng của Tết Việt.
Nhưng ông đồ không chỉ là một hình ảnh trang trí. Đằng sau là cả một lớp người đã gánh việc dạy chữ cho làng xã suốt nhiều thế kỷ, rồi mất chỗ đứng khi khoa cử chữ Hán chấm dứt. Bài này kể ông đồ là ai, đời sống của họ ra sao, vì sao Tết gắn với ông đồ, và những khu cho chữ mang tên phố ông đồ hôm nay đang giữ lại điều gì của lớp người ấy.
Thầy đồ trong làng xã xưa
Trong xã hội Việt trước thế kỷ XX, việc học chữ Hán phần lớn diễn ra ở các lớp học tư trong làng. Người dạy là thầy đồ, có nơi gọi là ông đồ, thầy khoá. Đó thường là người đã học nhiều năm, có khi đỗ tú tài hoặc chỉ qua vài kỳ thi rồi thôi, không ra làm quan, về làng mở lớp. Lớp học có khi ở chính nhà thầy, có khi ở nhà một gia đình khá giả mời thầy về dạy con cháu và trẻ trong xóm.
Học trò theo thầy từ lúc nhỏ, học từ những sách vỡ lòng đến sách kinh điển để đi thi. Học phí không cố định như trường học ngày nay; gia đình học trò đóng góp bằng gạo, tiền, lễ vật vào những dịp nhất định trong năm. Ngày Tết, học trò đến nhà thầy chúc Tết, có câu tục ngữ quen "mùng Một Tết cha, mùng Hai Tết mẹ, mùng Ba Tết thầy" cho thấy vị trí của người thầy trong đời sống làng.
Thầy đồ cũng là người viết hộ cho cả làng: viết đơn từ, văn tế, câu đối đám cưới đám tang, gia phả. Vì thế mỗi khi Tết đến, nhà thầy đồ là nơi người làng tìm đến xin câu đối, xin chữ treo nhà. Nhiều thầy đồ còn mang giấy mực ra chợ phiên cuối năm hoặc lên tỉnh, ngồi viết câu đối cho khách qua đường, kiếm thêm chút tiền ăn Tết.
Khi khoa cử chữ Hán chấm dứt
Đầu thế kỷ XX, chính quyền thuộc địa dần bỏ khoa cử chữ Hán; các khoa thi cuối cùng diễn ra vào cuối thập niên 1910. Chữ Quốc ngữ và chữ Pháp thay chỗ chữ Hán trong trường học và giấy tờ. Lớp nhà nho, trong đó có các thầy đồ, mất dần vai trò. Học trò không còn tìm đến học chữ Hán để đi thi, lớp học làng thưa dần.
Với nhiều ông đồ, Tết trở thành dịp hiếm hoi chữ của họ còn được người ta tìm đến. Họ bày giấy đỏ, mực tàu bên hè phố thành thị, viết câu đối, viết chữ cho khách. Nhưng càng về sau, người mua chữ càng ít, vì người trẻ không còn đọc được chữ Hán và thị hiếu đã khác. Cảnh ông đồ ngồi một mình bên hè, giấy đỏ phai, mực khô, là cảnh thật của một giai đoạn chuyển giao văn hoá.
Sự chuyển giao ấy không chỉ là chuyện mất việc của một lớp người. Nó đánh dấu việc người Việt đổi hệ chữ viết, đổi cách học, đổi luôn cả hình dung về người có học. Ông đồ vì thế trở thành biểu tượng cho những giá trị cũ mà nhiều người vừa thương tiếc vừa biết là không thể giữ nguyên.
Bài thơ Ông đồ và hình ảnh ông đồ trong ký ức Tết
Hình ảnh ông đồ đi vào ký ức chung của người Việt phần lớn qua bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên, sáng tác khoảng giữa thập niên 1930 và được học trong nhà trường nhiều thế hệ. Bài thơ mở bằng hai câu quen thuộc: "Mỗi năm hoa đào nở / Lại thấy ông đồ già". Thể thơ năm chữ, giọng kể nhẹ, đi theo vòng thời gian: những năm đầu ông đồ còn được người thuê viết, khen chữ đẹp; rồi người thuê viết vắng dần; đến cuối bài, ông đồ không còn xuất hiện nữa.
Điều làm bài thơ sống lâu là nó không trách ai. Nó chỉ đặt cạnh nhau một ông đồ vẫn ngồi đó với giấy mực và một dòng người qua đường không còn để ý. Câu hỏi cuối bài về "những người muôn năm cũ" là câu hỏi về sự đổi thay của văn hoá, mà mỗi thế hệ đọc lại đều thấy có phần của mình. Muốn đọc trọn bài thơ, bạn tìm trong sách giáo khoa Ngữ văn hoặc các tuyển tập thơ in chính thức.
Nhờ bài thơ và nhờ những bức ảnh, tranh vẽ phố Tết xưa, ông đồ trở thành một phần của bức tranh Tết trong tâm thức người Việt, cạnh bánh chưng, cành đào, câu đối đỏ. Chính ký ức ấy là nền cho sự trở lại của ông đồ trong mấy chục năm gần đây.
Phố ông đồ hôm nay: những gì đã thay đổi
Ông đồ không còn là thầy dạy chữ Hán. Phần lớn người ngồi viết ở các khu cho chữ hôm nay là người tập thư pháp, hội viên câu lạc bộ, giáo viên, sinh viên mỹ thuật, có cả người trẻ và phụ nữ, nên nhiều nơi gọi vui là "ông đồ trẻ", "bà đồ". Áo the, khăn xếp phần nhiều là trang phục để giữ không khí.
Chữ Việt chiếm phần lớn. Bên cạnh chữ Hán, thư pháp chữ Việt ngày càng nhiều vì người xin đọc được ngay. Có người viết cả câu dài, câu thơ, câu ca dao bằng chữ Việt.
Có tổ chức, có lịch. Thay cho ông đồ tự ngồi bên hè, nay có những khu cho chữ do thành phố hoặc di tích tổ chức, xếp bàn theo dãy, có lịch mở cửa. Ở Hà Nội, khu vực quanh Văn Miếu – Quốc Tử Giám là nơi người dân quen tìm đến mỗi dịp Tết.
Người xin chữ đông hơn. Trái với cảnh vắng vẻ trong bài thơ, các khu cho chữ ngày nay thường đông, nhất là những ngày đầu năm. Xin chữ đã thành một hoạt động đi chơi Tết của nhiều gia đình và người trẻ.
Giữ được gì và mất đi gì
Có nhiều ý kiến khác nhau về phố ông đồ hôm nay. Một bên cho rằng việc tổ chức các khu cho chữ đã giữ lại được tục xin chữ, đưa thư pháp đến gần người trẻ, cho người viết thư pháp có nơi gặp gỡ công chúng. Thực tế nhiều người trẻ bắt đầu tập thư pháp sau một lần đi xin chữ.
Bên khác lo ngại tục bị biến thành một hoạt động trình diễn: người viết không hiểu nghĩa chữ Hán, chữ viết theo mẫu, khách xin chữ như mua một món quà lưu niệm, đôi khi kèm lời chào mời chữ "hợp tuổi". Theo cách nhìn này, ông đồ xưa là người có học thật, còn nhiều ông đồ nay chỉ khoác áo đồ.
Cả hai cách nhìn đều có phần đúng, và chúng không loại trừ nhau. Là người đi xin chữ, bạn không cần chọn phe; chỉ cần tìm người viết có hiểu biết, hỏi nghĩa chữ, cảm ơn tử tế và trân trọng tờ chữ mình mang về. Những người cho chữ nghiêm túc vẫn đang làm đúng việc của ông đồ xưa: giữ chữ và giải chữ cho người khác hiểu.
Người cho chữ tử tế hôm nay cần có gì
Hiểu chữ mình viết. Với chữ Hán, người cho chữ cần biết nghĩa, biết cấu tạo cơ bản, viết đúng nét và đúng thứ tự nét. Với chữ Việt, cần viết đúng chính tả, đúng dấu. Đây là phần cốt lõi ông đồ xưa có sẵn nhờ nhiều năm đi học.
Biết giải chữ cho người khác hiểu. Ông đồ xưa vừa viết vừa giảng. Người cho chữ hôm nay cũng nên giải thích được vì sao chữ ấy hợp với điều người xin mong, bằng lời giản dị, không thần bí hoá.
Biết lạc khoản và lễ của tờ chữ. Dòng lạc khoản ghi năm, ghi người tặng người nhận, ấn triện đặt đúng chỗ, là phần làm nên tờ thư pháp hoàn chỉnh. Người viết nghiêm túc sẽ hỏi bạn trước khi ghi.
Không phán, không bán bùa. Người cho chữ đứng đắn không nói chữ này "giải hạn", chữ kia "hút tài lộc", không ép xin thêm. Đây là ranh giới giữa giữ tục và buôn bán niềm tin.
Cụ đồ ở làng quê hôm nay
Ngoài phố thị, ở nhiều làng quê Bắc Bộ vẫn còn những cụ ông, cụ bà biết chữ Hán, chữ Nôm, thường là người từng học với các thầy đồ cuối cùng hoặc tự học để đọc gia phả, câu đối ở đình, nhà thờ họ. Dịp Tết, cụ được con cháu trong họ, người trong làng nhờ viết chữ, viết câu đối, sửa gia phả. Những cụ đồ làng này ít khi xuất hiện ở các khu cho chữ đông người, nhưng chính họ giữ lại phần sâu nhất của nghề: hiểu văn tự của làng mình.
Nếu gia đình bạn có người như vậy, đó là người nên hỏi chuyện nhất trong những ngày Tết. Một buổi ngồi nghe cụ đọc lại câu đối ở nhà thờ họ, giải nghĩa từng chữ, có khi quý hơn nhiều chuyến đi phố ông đồ.
Cũng nên nhớ rằng lớp người này đang thưa dần. Ghi âm, chụp ảnh, chép lại lời cụ giải nghĩa các câu đối, các trang gia phả là cách con cháu giữ lại một phần ký ức của làng mà sau này khó tìm lại được.
Đi phố ông đồ sao cho trọn vẹn
Vài gợi ý để một buổi đi phố ông đồ không chỉ là chụp ảnh:
- Đi sớm, đi ngày thường để có thời gian trò chuyện với người viết.
- Dạo một vòng xem lối chữ của nhiều người trước khi chọn xin chữ.
- Hỏi người viết học thư pháp từ đâu, viết lối chữ gì; nhiều người rất sẵn lòng kể.
- Nếu đi cùng trẻ, kể trước cho trẻ nghe về thầy đồ ngày xưa, đọc cùng con hai câu đầu bài thơ Ông đồ.
- Không chụp ảnh sát mặt người viết khi chưa xin phép, không đứng che ánh sáng.
- Giữ vệ sinh chung, không xả rác quanh khu di tích.
- Xem thông báo của nơi tổ chức về thời gian mở cửa từng năm trước khi đi, vì lịch có thể thay đổi.
Một buổi đi phố ông đồ thong thả, nói chuyện được với một người viết yêu nghề, thường để lại nhiều hơn một tờ chữ.
Câu hỏi thường gặp
Ông đồ và thầy đồ có khác nhau không?
Về cơ bản là một. Thầy đồ, ông đồ đều chỉ người dạy chữ Hán ở lớp học làng xưa, cách gọi thay đổi theo vùng và theo sắc thái. "Thầy đồ" nhấn vào vai người dạy học, "ông đồ" thường dùng khi nói về người viết câu đối, viết chữ dịp Tết.
Ông đồ có phải là người đỗ đạt không?
Không nhất thiết. Nhiều ông đồ là người học nhiều năm nhưng không đỗ cao hoặc không ra làm quan, về quê dạy học. Có người đỗ tú tài, có người chỉ qua vài kỳ thi. Điểm chung là họ có học vấn chữ Hán đủ để dạy trẻ và viết văn tự cho làng.
Bài thơ Ông đồ của ai, viết khi nào?
Bài thơ Ông đồ do nhà thơ Vũ Đình Liên sáng tác, thường được xếp vào khoảng giữa thập niên 1930, thời kỳ phong trào Thơ mới. Bài thơ năm chữ này được đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn và quen thuộc với nhiều thế hệ học sinh.
Phố ông đồ ở Hà Nội thường mở vào thời gian nào?
Các khu cho chữ dịp Tết thường mở từ khoảng cuối tháng Chạp đến hết tháng Giêng, nhưng thời gian cụ thể thay đổi theo từng năm và theo đơn vị tổ chức. Bạn nên xem thông báo chính thức của nơi tổ chức năm đó trước khi đi.
Ngày nay ai cũng có thể ngồi cho chữ ở phố ông đồ không?
Ở các khu cho chữ có tổ chức, người viết thường phải đăng ký với ban tổ chức và theo quy định của khu đó. Ngoài ra còn có người viết tự do ở những nơi khác. Người xin chữ nên chú ý hỏi nghĩa chữ để chắc người viết hiểu điều mình viết.
Vì sao ông đồ hay mặc áo the, khăn xếp?
Áo the, khăn xếp là trang phục lễ của nam giới Việt thời trước, nhà nho thường mặc khi ra ngoài hoặc dịp lễ Tết. Ngày nay người cho chữ mặc trang phục này chủ yếu để tạo không khí xưa, gợi lại hình ảnh ông đồ trong ký ức, chứ không phải quy định bắt buộc.