NguyenTieu.comNguyên Tiêu
Khai bút, xin chữ và viết thơ xuân

Làm thơ thất ngôn tứ tuyệt mùa xuân: luật bằng trắc, niêm và vần cho người mới

Hướng dẫn làm một bài thất ngôn tứ tuyệt chủ đề xuân: luật bằng, luật trắc, niêm, vần, bố cục khai thừa chuyển hợp, có bảng luật và ví dụ tự soạn kiểm từng câu.

Wide view of a quiet village pond at dawn in Ninh Binh during early spring, mist over the water, a lone figure from behind sitting on stone steps with a notebook

Thất ngôn tứ tuyệt là bài thơ bốn câu, mỗi câu bảy chữ, theo luật Đường: vần bằng ở cuối câu 1, 2 và 4; các tiếng 2, 4, 6 trong mỗi câu xen kẽ bằng trắc; câu 1 niêm với câu 4, câu 2 niêm với câu 3. Bố cục theo bốn bước khai, thừa, chuyển, hợp. Thể thơ này ngắn, chặt, rất hợp để làm một bài thơ khai bút có không khí cổ điển.

Nhiều người ngại thơ Đường luật vì nghe nói có nhiều luật. Thực ra với tứ tuyệt, bạn chỉ cần nhớ một bảng bốn dòng và vài nguyên tắc. Bài này giải thích từng nguyên tắc, cho bảng luật bằng để bạn dùng ngay, rồi đi qua một ví dụ tự soạn về cảnh Tết, kiểm từng câu, để bạn thấy luật vận hành thế nào trên chữ thật.

Bốn khái niệm cần nắm

Bằng và trắc. Thanh bằng gồm thanh ngang và thanh huyền; thanh trắc gồm sắc, hỏi, ngã, nặng. Đây là nền của mọi luật thơ Đường viết bằng tiếng Việt.

Nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh. Câu khẩu quyết quen thuộc: tiếng thứ 1, 3, 5 trong câu tương đối tự do, còn tiếng 2, 4, 6 phải đúng luật. Trong một câu, tiếng 2 và tiếng 6 cùng thanh, tiếng 4 ngược lại.

Luật bằng, luật trắc. Bài thơ theo luật bằng hay luật trắc tuỳ vào tiếng thứ 2 của câu đầu: tiếng ấy bằng thì gọi là luật bằng, trắc thì gọi là luật trắc.

Niêm. Hai câu niêm với nhau khi tiếng thứ 2 của chúng cùng thanh. Trong tứ tuyệt, câu 1 niêm câu 4, câu 2 niêm câu 3. Niêm giữ cho bài thơ không bị lặp nhịp và không rời rạc.

Vần. Tứ tuyệt thường gieo một vần duy nhất, vần bằng, ở cuối các câu 1, 2 và 4. Các chữ vần phải cùng phần vần, ví dụ sang, vàng, ngang; không lặp lại cùng một chữ. Chọn vần có nhiều chữ trong tiếng Việt giúp bạn dễ xoay xở.

Bảng luật bằng, vần bằng cho thất ngôn tứ tuyệt

Đây là mẫu phổ biến nhất. B là bằng, T là trắc; các vị trí 1, 3, 5 có thể linh hoạt theo câu khẩu quyết ở trên, còn vị trí 2, 4, 6 và tiếng cuối nên giữ đúng.

CâuTiếng 1–7VầnVai trò
Câu 1B B T T T B BCó vần (bằng)Khai: mở cảnh
Câu 2T T B B T T BCó vần (bằng)Thừa: tiếp ý cảnh
Câu 3T T B B B T TKhông vần, tiếng cuối trắcChuyển: đổi hướng
Câu 4B B T T T B BCó vần (bằng)Hợp: khép ý

Nhìn cột thứ hai theo chiều dọc ở vị trí 2: B, T, T, B. Câu 1 và câu 4 cùng B, câu 2 và câu 3 cùng T, đúng luật niêm. Nhìn theo chiều ngang mỗi câu ở vị trí 2, 4, 6: B T B hoặc T B T, đúng luật xen kẽ.

Luật trắc thì đảo lại: câu 1 bắt đầu T T B B, các câu khác đổi theo. Người mới nên làm luật bằng trước, vì tiếng Việt có nhiều chữ thanh ngang, thanh huyền dễ làm vần.

Khai, thừa, chuyển, hợp: bố cục bốn câu

Ngoài luật thanh, tứ tuyệt có một bố cục quen thuộc. Câu 1 (khai) mở ra cảnh hoặc việc. Câu 2 (thừa) tiếp nối, làm rõ thêm cảnh ấy. Câu 3 (chuyển) là chỗ đổi hướng: chuyển từ cảnh sang người, từ ngoài vào trong, từ hiện tại về kỷ niệm. Câu 4 (hợp) khép lại, thường là chỗ đặt ý chính hoặc một hình ảnh đọng lại.

Câu chuyển là câu khó nhất và quan trọng nhất. Nếu câu 3 chỉ tả tiếp cảnh như câu 1 và 2, bài thơ sẽ phẳng. Nếu câu 3 đổi hướng đúng chỗ, câu 4 có sức nặng. Đây cũng là chỗ thơ Đường khác lục bát: lục bát kể nối, tứ tuyệt gói trong bốn câu một chuyển động trọn vẹn.

Trong văn học Việt, nhiều bài thơ chữ Hán và thơ Nôm theo thể tứ tuyệt viết về mùa xuân, đêm rằm, ngày Tết. Bài Nguyên tiêu (Rằm tháng Giêng) có trong sách giáo khoa là một ví dụ thất ngôn tứ tuyệt chữ Hán gắn với đêm Nguyên tiêu. Đọc lại những bài ấy với bảng luật bên cạnh là cách học nhanh nhất.

Ví dụ tự soạn: một bài tứ tuyệt về chiều cuối năm

Dưới đây là một bài tự soạn để minh hoạ, luật bằng, vần "-ang". Bài không có ý định hay, chỉ để bạn thấy luật áp vào chữ thật thế nào:

Sân nhà mai nở đón xuân sang
Bếp lửa ấm hồng nắng ngõ vàng
Mẹ thắp nén hương chờ cửa trước
Con về kịp tối chuyến đò ngang

Bố cục: câu 1 mở cảnh sân nhà có mai nở. Câu 2 tiếp cảnh, từ sân vào bếp, từ hoa sang ánh nắng. Câu 3 chuyển sang người: người mẹ thắp hương, chờ. Câu 4 khép lại bằng chính điều người mẹ chờ: đứa con về kịp chuyến đò cuối ngày. Ý "Tết là đoàn tụ" không cần nói ra; nó nằm trong hành động chờ và chuyến đò.

Chú ý cách chữ được chọn để giữ luật mà không gượng. "Ấm hồng" đặt "hồng" vào vị trí 4 cần thanh bằng; "cửa trước" đặt "cửa" vào vị trí 6 cần thanh trắc và để "trước" thanh trắc khép câu 3. Mỗi chữ vừa đúng luật vừa mang một chi tiết của cảnh.

Kiểm luật từng câu của ví dụ

Bảng dưới kiểm các vị trí 2, 4, 6 và tiếng cuối của từng câu trong bài tự soạn ở trên:

CâuTiếng 2Tiếng 4Tiếng 6Tiếng 7Kết luận
Sân nhà mai nở đón xuân sangnhà (B)nở (T)xuân (B)sang (B, vần)Đúng mẫu B T B
Bếp lửa ấm hồng nắng ngõ vànglửa (T)hồng (B)ngõ (T)vàng (B, vần)Đúng mẫu T B T
Mẹ thắp nén hương chờ cửa trướcthắp (T)hương (B)cửa (T)trước (T)Đúng mẫu, không vần
Con về kịp tối chuyến đò ngangvề (B)tối (T)đò (B)ngang (B, vần)Đúng mẫu B T B

Niêm: tiếng 2 câu 1 (nhà) và câu 4 (về) cùng bằng; câu 2 (lửa) và câu 3 (thắp) cùng trắc. Vần: sang, vàng, ngang cùng vần "-ang". Bài đạt các yêu cầu cơ bản của luật bằng.

Các tiếng ở vị trí lẻ có chỗ không theo đúng mẫu B T trong bảng luật, ví dụ tiếng 3 câu 1 "mai" là bằng trong khi mẫu ghi T. Đó chính là phần "nhất tam ngũ bất luận" cho phép.

Quy trình làm một bài tứ tuyệt trong một buổi sáng

Nếu muốn có một bài tứ tuyệt cho trang khai bút, bạn có thể đi theo trình tự sau. Mỗi bước chỉ mất vài phút:

  1. Chọn một cảnh xuân cụ thể của riêng nhà bạn và viết bằng lời thường thành bốn ý: cảnh mở, cảnh tiếp, chỗ đổi hướng, điều muốn khép lại.
  2. Chọn vần trước: lấy một vần bằng nhiều chữ như "-ang", "-ơi", "-ên", lập danh sách mười chữ cùng vần có thanh bằng.
  3. Viết câu 4 trước tiên, vì đây là câu quan trọng nhất và phải có chữ vần. Kiểm theo mẫu B B T T T B B.
  4. Viết câu 1 với chữ vần khác trong danh sách, theo cùng mẫu với câu 4.
  5. Viết câu 2 theo mẫu T T B B T T B, chữ cuối cùng vần.
  6. Viết câu 3 theo mẫu T T B B B T T, không vần, tiếng cuối trắc; đây là câu chuyển, nên đổi hướng so với câu 1 và 2.
  7. Đọc to cả bài, kiểm niêm, sửa những chữ gượng ép. Chép sạch, ghi ngày tháng.

Viết câu kết trước nghe có vẻ ngược, nhưng là cách nhiều người làm thơ dùng: biết mình muốn dừng ở đâu thì ba câu trước dễ dẫn tới đó hơn.

Lỗi người mới hay mắc với tứ tuyệt

Vài lỗi gặp nhiều khi mới tập làm thơ Đường luật, và cách sửa:

  • Thất niêm: quên kiểm tiếng 2 giữa các câu, khiến câu 2 và câu 3 khác thanh. Sửa bằng cách đổi chữ thứ hai của câu 3.
  • Lạc vần: tiếng cuối câu 2 hoặc câu 4 không cùng vần với câu 1, hoặc dùng chữ thanh trắc. Lập trước một danh sách năm, sáu chữ cùng vần để chọn.
  • Câu 3 kết bằng thanh bằng: câu 3 không gieo vần và tiếng cuối nên là trắc, nếu không bài nghe như bị lặp vần.
  • Câu chuyển không chuyển: câu 3 vẫn tả cảnh như câu 1, 2, khiến bài phẳng.
  • Nhồi chữ Hán Việt cho có vẻ cổ: "xuân phong", "nguyệt hạ", "thiên địa" dùng không đúng chỗ làm bài thơ cứng và dễ sai nghĩa.
  • Ép chữ cho đúng luật mà làm câu vô nghĩa. Luật chỉ là khung; nếu phải chọn, giữ nghĩa và đổi cách diễn đạt.

Mẹo kiểm nhanh: viết bảng luật ra giấy, đặt bài thơ ngay bên dưới, đánh dấu B hoặc T trên từng tiếng ở vị trí 2, 4, 6 và tiếng cuối. Năm phút là thấy hết lỗi.

Từ tứ tuyệt đến bát cú, và khi nào nên dừng lại ở tứ tuyệt

Thất ngôn bát cú là bài tám câu, cũng theo luật Đường, có thêm yêu cầu đối: hai câu 3 – 4 (thực) và hai câu 5 – 6 (luận) phải đối nhau về từ loại và ý. Niêm trong bát cú là câu 1 với 8, 2 với 3, 4 với 5, 6 với 7. Bát cú khó hơn nhiều vì phải làm hai cặp đối chỉnh mà vẫn tự nhiên.

Với trang khai bút, tứ tuyệt thường là lựa chọn tốt hơn. Bốn câu đủ một chuyển động trọn vẹn, chép vừa một tờ giấy đỏ khổ nhỏ, và người mới có thể làm xong trong một buổi sáng. Nếu năm nay bạn làm được một bài tứ tuyệt đúng luật, năm sau có thể thử bát cú như một mục tiêu khai bút mới.

Một gợi ý cuối: chép bài thơ kèm một dòng chú ngắn về hoàn cảnh viết, như "viết sáng mùng Hai, nhớ chuyến đò về quê năm cũ". Sau nhiều năm, chính những dòng chú ấy làm bài thơ sống lại khi đọc.

Câu hỏi thường gặp

Thất ngôn tứ tuyệt khác thất ngôn bát cú thế nào?

Tứ tuyệt có bốn câu, bát cú có tám câu, cùng bảy chữ mỗi câu và cùng luật Đường. Bát cú có thêm yêu cầu đối ở hai cặp câu giữa và hệ niêm dài hơn. Tứ tuyệt không bắt buộc đối, ngắn gọn hơn, hợp với người mới tập.

Câu đầu tứ tuyệt có bắt buộc gieo vần không?

Mẫu phổ biến là gieo vần ở câu 1, 2 và 4. Có những bài câu 1 không gieo vần, khi đó tiếng cuối câu 1 thường là thanh trắc. Người mới nên gieo vần cả câu 1 cho bài nghe tròn và dễ kiểm.

Làm thơ Đường luật bằng tiếng Việt thuần có được không?

Được. Thơ Nôm Đường luật đã có từ lâu, và nhiều nhà thơ Việt viết thơ Đường luật bằng tiếng Việt thuần rất tự nhiên. Không cần nhồi chữ Hán Việt; câu chữ thuần Việt đúng luật thường dễ hiểu và gần gũi hơn.

Luật bằng và luật trắc, nên chọn cái nào khi mới tập?

Nên bắt đầu với luật bằng, vì câu đầu mở bằng thanh bằng và vần bằng, dễ tìm chữ trong tiếng Việt. Khi đã quen kiểm niêm và vần, bạn có thể thử luật trắc bằng cách đảo các vị trí 2, 4, 6 theo bảng luật trắc.

Có cần đối trong thơ tứ tuyệt không?

Không bắt buộc. Một số bài tứ tuyệt có đối ở hai câu đầu hoặc hai câu cuối để tăng sức nặng, nhưng đó là lựa chọn, không phải luật. Người mới nên tập trung vào niêm, vần và bố cục khai thừa chuyển hợp trước.

Làm sao kiểm thanh của một chữ khi không chắc?

Nhìn dấu: chữ không dấu là thanh ngang, dấu huyền là thanh huyền, hai thanh này là bằng; dấu sắc, hỏi, ngã, nặng là trắc. Lưu ý chữ có dấu phụ như ơ, ư, â vẫn là thanh ngang nếu không có dấu thanh. Đọc to từng chữ cũng giúp nhận ra.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183