Thư pháp chữ Hán và thư pháp chữ Việt cùng dùng bút lông, mực và giấy, nhưng khác nhau từ gốc: chữ Hán là chữ vuông, mỗi chữ một khối mang nghĩa, có các thể chữ đã định hình qua hơn hai nghìn năm; chữ Việt là chữ ghép từ các con chữ Latinh và dấu, thư pháp chữ Việt mới phát triển mạnh từ nửa sau thế kỷ XX và vẫn đang tìm quy chuẩn riêng.
Ở các khu cho chữ ngày Tết, hai loại thư pháp ngồi cạnh nhau, người xin chữ thường chọn theo cảm tính: thích vẻ cổ thì xin chữ Hán, muốn đọc được thì xin chữ Việt. Bài này so sánh hai loại theo những tiêu chí cụ thể: cấu tạo chữ, chiều viết, thể chữ, bố cục và cách thưởng thức, để bạn nhìn một tờ chữ biết người viết đang làm gì và nên đánh giá nó theo thước đo nào.
Khác nhau ở đâu: bảng so sánh nhanh
Bảng dưới tóm những khác biệt cơ bản. Mỗi dòng sẽ được giải thích kỹ hơn ở các mục sau.
| Tiêu chí | Thư pháp chữ Hán | Thư pháp chữ Việt |
|---|---|---|
| Đơn vị chữ | Mỗi chữ là một khối vuông, một âm tiết, mang nghĩa | Mỗi tiếng gồm nhiều con chữ Latinh và dấu |
| Chiều viết truyền thống | Theo cột dọc, từ phải sang trái | Theo hàng ngang, từ trái sang phải; nhiều người viết dọc theo từng tiếng |
| Thể chữ | Triện, Lệ, Khải, Hành, Thảo, đã định hình lâu đời | Chưa có hệ thể thống nhất; phân theo mức cách điệu |
| Thứ tự nét | Có quy tắc chặt, ảnh hưởng hình chữ | Linh hoạt hơn, tuỳ lối riêng của người viết |
| Người xem cần gì | Biết chữ Hán hoặc được giải nghĩa | Đọc được ngay nếu chữ không quá cách điệu |
| Thước đo phổ biến | Kết cấu chữ, bút lực, khí, bố cục cả tờ | Dễ đọc, nhịp nét, tạo hình, ý của câu chữ |
Bảng này mô tả xu hướng chung. Trong thực tế có người viết chữ Việt theo tinh thần thể chữ Hán, cũng có người viết chữ Hán theo lối tự do, phá thể.
Cấu tạo chữ quyết định cách viết
Chữ Hán là chữ biểu ý: mỗi chữ chiếm một ô vuông tưởng tượng, gồm các nét và bộ phận sắp xếp trong ô ấy. Người viết thư pháp chữ Hán phải giữ cân bằng trong từng ô, rồi giữ cân bằng giữa các ô với nhau. Vì mỗi chữ đã mang nghĩa, một tờ thư pháp chỉ một chữ vẫn trọn vẹn: chữ Nhẫn, chữ Tâm đứng một mình là một ý.
Chữ Việt hiện nay là chữ ghi âm dùng bảng chữ Latinh, thêm các dấu phụ (ă, â, ê, ô, ơ, ư, đ) và năm dấu thanh. Một tiếng có thể chỉ một con chữ, cũng có thể bảy tám con chữ, ví dụ tiếng "nghiêng". Độ dài không đều ấy là thách thức lớn nhất của thư pháp chữ Việt: làm sao để chữ "a" và chữ "nghiêng" đứng cạnh nhau mà vẫn cân. Nhiều người viết giải quyết bằng cách gom mỗi tiếng thành một khối, kéo dài hay co nén các nét, đặt dấu thanh như một điểm nhấn tạo hình.
Chính các dấu cũng tạo nên vẻ riêng. Dấu hỏi, dấu ngã, dấu mũ khi được viết bằng bút lông có thể thành những nét bay, nét móc rất đẹp, thứ không có trong thư pháp chữ Hán. Nhưng đặt sai vị trí dấu thì chữ sai chính tả, điều người xem tiếng Việt nhận ra ngay.
Các thể chữ Hán và câu hỏi về "thể" của chữ Việt
Triện thư. Lối chữ cổ, nét đều, dáng tròn hoặc vuông, nay hay gặp trên ấn triện. Khó đọc với người không học riêng.
Lệ thư. Nét ngang dẹt, có nét "đuôi tằm" hất ở cuối, dáng chữ bè ngang. Phổ biến trên bia, hoành phi.
Khải thư (chân thư). Lối chữ chuẩn, nét rõ ràng từng nét, là lối người học viết đầu tiên. Chữ xin ngày Tết nhiều khi viết lối này hoặc gần lối này.
Hành thư. Nét liền hơn, nhanh hơn Khải nhưng vẫn đọc được. Lối viết hằng ngày của người có học xưa.
Thảo thư. Nét liền mạch, giản lược mạnh, giàu tính biểu cảm, khó đọc với người không quen.
Còn chữ Việt thì sao? Thư pháp chữ Việt chưa có hệ thể chữ được thừa nhận rộng rãi như vậy. Người viết thường nói về mức cách điệu: từ lối chân phương dễ đọc đến lối phóng khoáng gần với tranh. Có ý kiến cho rằng cần xây dựng quy chuẩn thể chữ để thư pháp chữ Việt có nền vững; ý kiến khác cho rằng đây là nghệ thuật còn trẻ, nên để nó tự định hình qua thực hành. Cả hai quan điểm đều có người theo.
Một chút lịch sử: từ chữ Hán, chữ Nôm đến chữ Quốc ngữ
Ở Việt Nam, thư pháp chữ Hán gắn với nghìn năm học chữ Hán, thấy trên bia đá, hoành phi, câu đối, sắc phong ở đình chùa. Người Việt cũng viết chữ Nôm, thứ chữ mượn và ghép từ chữ Hán để ghi tiếng Việt; trên nhiều câu đối, hoành phi cũ có thể gặp chữ Nôm cạnh chữ Hán.
Chữ Quốc ngữ được hình thành từ thế kỷ XVII trong môi trường các giáo sĩ phương Tây và người Việt cùng làm việc, rồi dần phổ biến trong thế kỷ XX và trở thành chữ viết chính. Thư pháp bằng chữ Quốc ngữ xuất hiện muộn hơn nhiều; nó phát triển mạnh từ khoảng nửa sau thế kỷ XX, với các nhóm, câu lạc bộ thư pháp ở nhiều thành phố, và bùng lên cùng các khu cho chữ dịp Tết những năm gần đây.
Vì thế khi so sánh, nên nhớ hai bên ở hai giai đoạn rất khác. Thư pháp chữ Hán có hàng nghìn năm lý luận, có những bậc thầy được tôn vinh như Vương Hy Chi thời Đông Tấn ở Trung Hoa, có hệ thống phê bình. Thư pháp chữ Việt mới đang hình thành truyền thống của mình. So một nghệ thuật trẻ với một nghệ thuật lâu đời theo cùng một thước đo dễ dẫn đến kết luận vội.
Dụng cụ: giống nhiều hơn khác
Cả hai loại thư pháp đều xoay quanh bộ văn phòng tứ bảo: bút lông, mực, giấy, nghiên. Bút lông có nhiều loại theo lông con vật và độ cứng; lông mềm cho nét mềm, đậm nhạt nhiều, lông cứng cho nét gọn, sắc. Người viết chữ Hán lâu năm hay dùng mực mài từ thỏi trên nghiên, vì kiểm soát được độ đặc; người viết ở khu cho chữ đông khách thường dùng mực nước pha sẵn cho nhanh.
Khác biệt nằm ở thói quen hơn là ở dụng cụ. Người viết chữ Việt nhiều khi dùng bút lông cỡ to, đầu nhọn, để kéo được những nét dài, uốn cong của chữ Latinh và các dấu. Một số người thử cả bút dẹt, bút làm từ tre vót, để có nét riêng. Giấy dùng chung: giấy đỏ ngày Tết, giấy dó, giấy xuyến chỉ, giấy có hoa văn chìm.
Với người mới tập, điều này có nghĩa là bạn không cần chọn trước. Một bộ bút, mực, giấy cơ bản đủ để thử cả hai lối chữ, rồi theo đuổi lối mình thích hơn.
Lỗi hay gặp ở tờ chữ viết vội ngày Tết
Khu cho chữ ngày Tết đông khách, người viết phải viết nhanh, nên có những lỗi dễ gặp. Biết trước giúp bạn nhận ra khi xin chữ:
- Chữ Hán sai nét hoặc thiếu nét, nhất là ở các chữ nhiều nét như Thọ, Đức, Lộc.
- Chữ Việt sai chính tả, đặt dấu thanh sai chỗ, hoặc quên dấu phụ (chữ "Bình" thiếu dấu huyền, chữ "ơ" thiếu móc).
- Cách điệu quá mức đến nỗi người nhận không đọc được chữ mình xin.
- Lạc khoản ghi sai năm can chi, sai tên người nhận.
- Viết lên giấy đã in sẵn khung, sẵn chữ mờ rồi tô theo, làm mất phần tay nghề của tờ chữ.
- Mực quá loãng, khô không đều, vài tháng sau nét bạc đi trông như chữ in mờ.
Không phải tờ chữ nào có lỗi cũng là do người viết kém; đôi khi chỉ vì vội. Hỏi lại nghĩa chữ, nhìn kỹ lạc khoản trước khi rời bàn, và lịch sự nhờ sửa nếu cần, là cách đơn giản để có tờ chữ đúng.
Bố cục một tờ thư pháp: phần chung của cả hai
Dù viết chữ Hán hay chữ Việt, một tờ thư pháp hoàn chỉnh đều quan tâm đến những yếu tố bố cục sau:
- Chữ chính: chữ hay câu nội dung, chiếm phần lớn diện tích, là trọng tâm thị giác.
- Khoảng trắng: phần giấy để trống quanh chữ. Khoảng trắng hợp lý làm chữ "thở"; viết kín mép giấy thường làm tờ chữ ngột ngạt.
- Lạc khoản: dòng chữ nhỏ ghi năm, người viết, có khi người nhận, đặt bên cạnh hoặc bên dưới chữ chính.
- Ấn triện: con dấu đỏ của người viết, đặt sau lạc khoản; có người thêm dấu nhỏ ở góc làm điểm nhấn.
- Nhịp đậm nhạt: mực đậm, mực nhạt, nét khô (phi bạch) xen nhau tạo chiều sâu cho tờ chữ.
- Hướng đọc: chữ Hán đọc theo cột dọc từ phải sang trái; chữ Việt đọc theo hàng ngang hoặc theo cột từng tiếng. Lạc khoản nên theo cùng hướng với chữ chính.
Khi xem một tờ chữ, đừng chỉ nhìn chữ chính. Tờ chữ có lạc khoản cẩn thận, ấn đặt đúng chỗ, khoảng trắng cân đối thường cho thấy người viết có học nghề bài bản.
Thưởng chữ thế nào khi bạn không phải người trong nghề
Với thư pháp chữ Hán, nếu không đọc được chữ, bạn vẫn có thể nhìn vài điều. Nét có chắc, có lực không, hay run rẩy, đứt gãy vô cớ. Chữ có đứng vững trong khoảng giấy, hay xiêu vẹo. Các nét có liền mạch với nhau như một hơi thở, hay ghép lại từng mảnh. Người trong nghề gọi những điều đó bằng các từ như bút lực, kết cấu, khí vận; bạn không cần thuộc từ, chỉ cần nhìn lâu và so sánh vài tờ của những người khác nhau.
Với thư pháp chữ Việt, vì đọc được, người xem thường bị nội dung câu chữ cuốn đi. Hãy thử nhìn tờ chữ như một bức tranh trước, rồi mới đọc. Chữ có dễ đọc không, hay cách điệu đến mức phải đoán. Dấu có đúng vị trí không. Các tiếng có cân với nhau không. Câu chữ có được chọn kỹ, chép đúng không. Một tờ chữ Việt đẹp mà sai chính tả là tờ chữ hỏng.
Cuối cùng, thưởng chữ là chuyện thói quen. Xem nhiều, hỏi nhiều, nghe người viết giải thích vì sao họ đặt nét này, kéo dài nét kia, mắt bạn sẽ dần tinh hơn. Đó cũng là cách vui nhất để đi một vòng khu cho chữ ngày Tết.
Câu hỏi thường gặp
Nên xin chữ Hán hay chữ Việt ngày Tết?
Tuỳ người sẽ treo và nhìn tờ chữ. Chữ Hán có vẻ đẹp cổ, gắn với nếp xưa, nhưng người trong nhà phải được giải nghĩa. Chữ Việt đọc được ngay, hợp với trẻ nhỏ và gia đình trẻ. Không có loại nào đúng tinh thần tục hơn loại nào.
Thư pháp chữ Việt có được coi là thư pháp thật không?
Có những quan điểm khác nhau. Một số người cho rằng thư pháp gắn với chữ vuông như chữ Hán, nên chữ Việt chỉ là chữ đẹp cách điệu. Số khác coi thư pháp là nghệ thuật viết chữ bằng bút lông ở bất cứ hệ chữ nào. Thực tế thư pháp chữ Việt đã có cộng đồng người viết, triển lãm và người thưởng thức riêng.
Thể chữ nào của chữ Hán dễ đọc nhất?
Khải thư, còn gọi chân thư, là lối dễ đọc nhất vì từng nét rõ ràng, là lối người học chữ Hán viết đầu tiên. Hành thư đọc được khi đã quen. Thảo thư và Triện thư khó đọc với người không học riêng. Khi xin chữ, nếu muốn người nhà dễ nhận ra chữ, có thể nhờ viết lối Khải.
Học thư pháp chữ Việt có cần học chữ Hán trước không?
Không bắt buộc. Nhiều người học thẳng thư pháp chữ Việt từ nét cơ bản bằng bút lông. Tuy vậy, tìm hiểu thêm thư pháp chữ Hán giúp bạn hiểu về bút lực, bố cục, khoảng trắng, những nguyên lý mà nhiều người viết chữ Việt giỏi vẫn học từ truyền thống chữ Hán.
Vì sao tờ thư pháp có con dấu đỏ?
Con dấu đỏ là ấn triện của người viết, thường khắc tên hoặc hiệu bằng chữ triện. Nó vừa như chữ ký, xác nhận người viết, vừa là một điểm nhấn màu trên nền giấy. Một số người viết còn đóng thêm dấu nhỏ ở góc tờ chữ để cân bố cục.
Làm sao biết tờ chữ Hán mình xin viết đúng chữ?
Nhờ người cho chữ đọc và giải nghĩa từng chữ, rồi chụp ảnh lại. Về nhà bạn có thể tra từ điển Hán Việt theo bộ thủ hoặc hỏi người biết chữ Hán. Với lối Thảo hoặc Hành, chữ có thể khác dáng lối chuẩn; khi ấy hỏi người viết ngay lúc nhận chữ là cách chắc nhất.