NguyenTieu.comNguyên Tiêu
Khai bút, xin chữ và viết thơ xuân

Làm thơ xuân lục bát: từ một hình ảnh nhỏ đến bốn câu tròn vần

Hướng dẫn tự làm một bài thơ xuân lục bát để khai bút: chọn hình ảnh, gieo vần lưng vần chân, giữ luật bằng trắc, sửa câu sáo, kèm ví dụ tự soạn từng bước.

Over-the-shoulder view of a young woman, face hidden, writing in a small notebook on a balcony in Da Lat, cup of tea and a sprig of apricot blossoms beside her

Muốn làm một bài thơ xuân lục bát, bạn cần ba thứ: một hình ảnh cụ thể của mùa xuân nhà mình, đúng luật vần (tiếng thứ sáu câu lục vần với tiếng thứ sáu câu bát, tiếng thứ tám câu bát vần với tiếng thứ sáu câu lục kế tiếp), và đúng luật bằng trắc ở các tiếng chẵn. Bốn câu, tức hai cặp lục bát, là độ dài vừa cho một trang khai bút.

Lục bát là thể thơ gần tai người Việt nhất, có trong ca dao, trong Truyện Kiều, trong lời ru. Vì quen tai, nhiều người viết được lục bát xuôi vần mà không cần học luật; nhưng cũng vì quen tai, lục bát xuân rất dễ thành chuỗi chữ sáo. Bài này đi từng bước, kèm ví dụ tự soạn, từ chọn hình ảnh đến sửa câu, để bài thơ khai bút của bạn vừa đúng luật vừa có điều riêng.

Luật lục bát trong một bảng

Phần luật chỉ cần nhớ các tiếng ở vị trí chẵn; các tiếng lẻ (1, 3, 5, 7) tương đối tự do. Thanh bằng gồm thanh ngang và thanh huyền; thanh trắc gồm sắc, hỏi, ngã, nặng.

CâuTiếng 2Tiếng 4Tiếng 6Tiếng 8Vần
Lục (6 tiếng)BằngTrắcBằng—Tiếng 6 vần với tiếng 6 câu bát ngay sau
Bát (8 tiếng)BằngTrắcBằngBằngTiếng 8 vần với tiếng 6 câu lục kế tiếp

Thêm một chi tiết làm câu bát nghe "êm": tiếng 6 và tiếng 8 của câu bát thường khác nhau giữa thanh ngang và thanh huyền, một tiếng ngang thì tiếng kia huyền. Hai câu mở đầu Truyện Kiều của Nguyễn Du cho thấy đủ các luật trên: "Trăm năm trong cõi người ta / Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau". Tiếng 2, 4, 6 câu lục là năm, cõi, ta; câu bát là tài, mệnh, là, nhau; "ta" vần với "là"; "là" thanh huyền, "nhau" thanh ngang.

Lục bát còn có những biến thể như gieo vần trắc, đổi vị trí vần, mà ca dao dùng khá nhiều. Với bài khai bút đầu tiên, nên giữ thể chính cho chắc tay.

Bước một: tìm một hình ảnh, không phải một ý

Phần lớn bài thơ xuân hỏng ngay từ đầu vì bắt đầu bằng một ý lớn: "mùa xuân tươi đẹp", "năm mới an vui". Ý lớn không sai, nhưng ai cũng viết được và ai cũng đã đọc cả trăm lần. Bài thơ có sức sống thường bắt đầu từ một hình ảnh nhỏ, cụ thể, của riêng người viết: nồi nước lá mùi già mẹ đun chiều Ba mươi, cái áo mới còn nếp gấp, đứa cháu lấm mực khi khai bút, chuyến xe về quê kẹt trên đèo.

Cách tìm hình ảnh: nhắm mắt nghĩ lại Tết năm nay hay Tết gần nhất, ghi ra năm chi tiết bạn nhớ rõ nhất, có màu, có mùi, có âm thanh. Chọn một chi tiết có cảm xúc nhất với mình. Bài thơ bốn câu chỉ cần một hình ảnh chính và một hai chi tiết đi kèm.

Ví dụ, chi tiết được chọn là buổi sáng cả nhà khai bút: ông bà ngồi xem, đứa cháu nhỏ làm đổ mực ra tay. Từ đó, ý của bài thơ tự lộ ra: niềm vui giản dị của một nếp nhà được truyền lại. Bạn không cần nói thẳng ý ấy; để hình ảnh nói thay.

Bước hai: dựng cặp lục bát đầu tiên

Dưới đây là cách dựng câu từng chút một, dùng ví dụ tự soạn. Mục tiêu là thấy quá trình, không phải một bài thơ mẫu:

  1. Viết câu lục bằng lời nói thường trước, đếm đủ sáu tiếng: "Sáng xuân mài mực bên thềm". Kiểm tiếng 2 (xuân, bằng), tiếng 4 (mực, trắc), tiếng 6 (thềm, bằng): đúng luật.
  2. Tiếng 6 câu lục là "thềm", nên tiếng 6 câu bát cần vần "-êm": mềm, êm, đêm, thêm. Chọn chữ hợp hình ảnh: "mềm".
  3. Dựng câu bát quanh chữ "mềm" ở vị trí 6: "Nét đầu năm mới viết mềm như mây". Kiểm: tiếng 2 (đầu, bằng), tiếng 4 (mới, trắc), tiếng 6 (mềm, bằng, huyền), tiếng 8 (mây, bằng, ngang). Tiếng 6 huyền, tiếng 8 ngang: êm tai.
  4. Đọc to cặp câu. Nếu chỗ nào vấp, đổi chữ ở vị trí lẻ trước, vì vị trí lẻ không bị luật ràng buộc.

Đến đây bạn có hai câu đúng luật. Chữ "mây" ở cuối câu bát sẽ quyết định vần cho câu lục tiếp theo.

Bước ba: nối sang cặp thứ hai và khép bài

Tiếng 8 của câu bát vừa viết là "mây", nên tiếng 6 của câu lục tiếp theo phải vần "-ây": tây, đây, cây, đầy, say. Trong ví dụ, ý tiếp theo là ông bà ngồi xem; chọn "hiên tây" để giữ hình ảnh hiên nhà: "Ông bà ngồi ngắm hiên tây" (tiếng 2 bà, tiếng 4 ngắm, tiếng 6 tây: bằng, trắc, bằng).

Câu bát cuối cần tiếng 6 vần với "tây". Chi tiết đắt nhất của cảnh là đứa cháu lấm mực, nên để nó vào câu cuối, chỗ người đọc nhớ lâu nhất: "Cháu thơ tay lấm mực đầy vẫn vui". Kiểm: tiếng 2 (thơ, bằng), tiếng 4 (lấm, trắc), tiếng 6 (đầy, bằng, huyền, vần với "tây"), tiếng 8 (vui, bằng, ngang). Bài bốn câu hoàn chỉnh (ví dụ tự soạn):

Sáng xuân mài mực bên thềm
Nét đầu năm mới viết mềm như mây
Ông bà ngồi ngắm hiên tây
Cháu thơ tay lấm mực đầy vẫn vui

Bài không hay xuất sắc, và không cần như vậy. Nó đúng luật, có một cảnh cụ thể, có người, có một chi tiết vui ở cuối. Đó là đủ cho một trang khai bút.

Tìm chữ vần: vần chính, vần thông và cách lập danh sách

Chỗ người mới hay bí nhất là tìm chữ vần ở vị trí 6 câu bát. Cách làm đơn giản: lấy phần vần của chữ cần vần (với "thềm" là "-êm"), rồi lần lượt ghép với các phụ âm đầu b, c, ch, d, đ, g, h, k, l, m, n, nh, ng, ph, r, s, t, th, tr, v, x, và chỉ giữ chữ thanh bằng. Trong vài phút bạn có một danh sách: đêm, êm, mềm, thêm, rèm, kèm, nệm… Chọn chữ hợp hình ảnh nhất.

Vần chính là hai chữ có phần vần giống hệt nhau, như "thềm" và "mềm". Vần thông là hai chữ có phần vần gần âm, như "-ây" và "-ay". Ca dao và nhiều bài thơ dùng vần thông khá thoải mái; người làm thơ chặt chẽ thì ưu tiên vần chính. Với bài khai bút, vần chính cho cảm giác chắc tay hơn.

Một mẹo nữa: khi bí, đừng cố giữ nguyên câu trước. Đổi chữ cuối của câu trước sang một chữ có vần dễ hơn thường nhanh hơn là vắt óc tìm chữ cho một vần khó.

Sửa câu sáo: đúng luật chưa chắc đã hay

Câu đúng luật mà rỗng. Thử đọc cặp câu tự soạn này: "Mùa xuân rực rỡ muôn hoa / Đất trời hớn hở chan hoà niềm vui". Luật đúng hết: xuân, rỡ, hoa; trời, hở, hoà, vui; "hoa" vần "hoà". Nhưng không có một chi tiết nào của riêng ai, đặt vào thiệp chúc nào cũng được.

Thay từ chung bằng vật cụ thể. "Muôn hoa" thành cành đào bố chặt sáng Hai tám; "đất trời" thành cái sân gạch vừa quét; "niềm vui" thành tiếng cười của một người cụ thể. Thơ mạnh lên ngay khi danh từ cụ thể hơn.

Bớt tính từ cảm xúc. Các chữ "rộn ràng", "hân hoan", "tươi thắm", "chan hoà" nói hộ người đọc điều họ nên cảm thấy. Cứ để cảnh làm việc đó; người đọc tự thấy vui khi thấy đứa trẻ lấm mực cười.

Tránh bộ ba quen thuộc. Én, đào, mai xuất hiện trong quá nhiều bài thơ xuân. Không cấm dùng, nhưng nếu dùng, hãy cho nó một chi tiết lạ: cánh đào rụng vào bát nước chè, con én bay thấp qua bãi mía.

Đọc to cho người khác nghe. Chỗ nào người nghe hỏi lại hay ngập ngừng, chỗ đó cần sửa. Lục bát là thơ của tai, nên đọc to là cách kiểm tốt nhất.

Khi không muốn theo luật: lục bát biến thể và thơ tự do

Không phải ai cũng muốn đếm tiếng và kiểm thanh. Nếu bạn thấy luật làm mình khựng lại, có hai lối thoát. Lối thứ nhất là lục bát biến thể: giữ nhịp sáu tám và vần chân, nhưng nới vài chỗ bằng trắc. Ca dao có rất nhiều câu như vậy, đọc vẫn êm. Lối thứ hai là thơ tự do: không đếm tiếng, không luật thanh, có vần hay không tuỳ bạn, chỉ cần nhịp câu và hình ảnh.

Thơ tự do không dễ hơn. Khi không có luật đỡ, bài thơ chỉ còn hình ảnh và nhịp. Một mẹo cho người mới: viết mỗi dòng một hình ảnh, ngắt dòng ở chỗ bạn muốn người đọc dừng lại, và kết bằng một dòng ngắn hơn hẳn các dòng trước. Ví dụ tự soạn, ba dòng: "Mẹ phơi lá dong trên mái tôn / nắng cuối năm mỏng như giấy / cả xóm thơm mùi bánh chưng".

Với trang khai bút, thể nào cũng được. Lục bát đúng luật cho cảm giác tròn trịa, trang trọng; thơ tự do cho cảm giác gần, thật. Chọn cái hợp với điều bạn muốn nói.

Danh sách kiểm trước khi chép bài thơ vào trang khai bút

Trước khi chép sạch lên giấy đỏ hoặc vào sổ, rà lại một lượt theo danh sách này:

  • Đếm tiếng từng câu: câu lục đủ sáu, câu bát đủ tám.
  • Kiểm tiếng 2, 4, 6 (và 8 ở câu bát): bằng, trắc, bằng, bằng.
  • Kiểm vần: tiếng 6 câu lục với tiếng 6 câu bát; tiếng 8 câu bát với tiếng 6 câu lục sau.
  • Tiếng 6 và 8 câu bát khác nhau ngang – huyền.
  • Có ít nhất một hình ảnh cụ thể chỉ nhà bạn, Tết của bạn mới có.
  • Gạch bớt một tính từ cảm xúc nếu bài có từ hai cái trở lên.
  • Kiểm chính tả và dấu; một chữ sai dấu có thể đổi cả nghĩa câu.
  • Ghi ngày tháng và tên người viết ở cuối, như lạc khoản của một tờ thư pháp.

Nếu bài thơ dành tặng người khác, ghi thêm "tặng…" ở đầu. Bài thơ tặng, dù đơn sơ, thường được người nhận giữ lâu hơn một tấm thiệp in sẵn.

Câu hỏi thường gặp

Thơ lục bát có bắt buộc đúng luật bằng trắc không?

Với lục bát chính thể thì các tiếng 2, 4, 6, 8 cần đúng luật để câu thơ êm. Ca dao và nhiều nhà thơ vẫn dùng lục bát biến thể, nới một vài chỗ. Với bài khai bút, bạn có thể bắt đầu bằng luật chính, khi đã quen tai thì mới thử biến thể.

Vần "ây" và "ay" có được coi là vần với nhau không?

Trong thực hành thơ, nhiều người chấp nhận các cặp vần gần âm như vậy, gọi là vần thông, còn những bài chặt chẽ thì dùng vần chính, giống hệt phần vần. Nếu muốn chắc, chọn chữ cùng vần chính; trong ví dụ tự soạn của bài, "tây" được ghép với "đầy" cho trọn vần.

Một bài thơ khai bút nên dài bao nhiêu câu?

Bốn câu, tức hai cặp lục bát, là độ dài vừa cho một trang giấy và đủ để có một cảnh và một ý kết. Nếu muốn viết dài hơn, hãy chia thành từng khổ bốn câu, mỗi khổ một hình ảnh, để bài không bị lan man.

Có nên dùng công cụ tự động để làm thơ khai bút không?

Công cụ có thể gợi ý vần, nhưng bài thơ khai bút có giá trị vì là lời của chính bạn. Các công cụ cũng hay làm sai luật lục bát và cho ra câu sáo. Bạn có thể dùng chúng để tra vần, còn hình ảnh và câu chữ nên tự chọn.

Làm thơ xuân cho trẻ nhỏ thì nên bắt đầu thế nào?

Cho trẻ kể một điều thích nhất trong ngày Tết, rồi cùng con tìm những chữ có vần với chữ cuối câu con nói. Đừng bắt đúng luật bằng trắc; chỉ cần có vần, có nhịp là trẻ đã thấy vui. Người lớn có thể giúp con đếm tiếng bằng cách vỗ tay theo từng chữ.

Bài thơ tự làm có nên viết bằng thư pháp không?

Có thể, nếu bạn hoặc người trong nhà biết viết thư pháp. Bài lục bát bốn câu chép bằng thư pháp chữ Việt là một tờ khai bút đẹp. Nếu chữ chưa đẹp, chép bằng bút mực vào sổ vẫn tốt, vì điều quý là bài thơ do chính bạn làm.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183